Thứ Ba, 9 tháng 2, 2016

Bên đường Mimosa



Biết tôi thích giang hồ, Thịnh mời tôi theo chàng một chuyến đi Đà Lạt. Tôi không hỏi Thịnh đi có việc chi, chỉ hỏi đi xe đò hay đi xe nhà.

Thịnh thích đi xe đò nằm, lên xe vào khoảng 9, 10 giờ đêm, ngủ trên xe một giấc tới Đà lạt vào sáng tinh mơ, trời còn đầy sương mù, người ta tập thể dục đi quanh bờ hồ, cũng có những người buôn gánh, bán bưng hối hả ra chợ để bày hàng.

Nếu đi xe nhà, Thịnh ngủ một giấc cho tới gần 4 giờ sáng, rồi khởi hành theo đường cao tốc thành phố ra Dầu Dây, xe chạy trong đêm, ra tới Định Quán trời tờ mờ sáng. Đến Lâm Đồng trời đã sáng, Thịnh thích ghé một quán ăn bên tay phải, cách chùa Phước Huệ ba, bốn căn phố, bên tay trái là cái hồ nước, ven bờ hồ dọc theo lộ người ta trồng những cây trổ hoa màu đỏ thẩm, tương phản với lá xanh rất đẹp.

Quán ăn nầy bán món ăn không đặc sắc lắm, nhưng sáng sớm quán cho khách uống những bình trà tươi, có thêm những lát gừng, tao ra hương vị đặc biệt, được thưởng thức một lần, khó quên hương vị đó.

Lần nầy Thịnh không đi xe đò, chàng tự lái xe, y như hẹn đến nhà rước tôi gần đúng 4 giờ sáng. Cả hai chúng tôi đều tỉnh táo, Thịnh lái xe, tôi ngồi bên thỉnh thoảng trao đổi chuyện trò để không cảm thấy chán khi đi trên đường dài.

Khi xe chạy đến Phương Lâm, trời cũng đã sáng, bên đường hàng quán đã buôn bán, tôi bỗng nhớ tới Trường một người bạn tù thời cải tạo, thỉnh thoảng anh ta hay lắc cái đầu cho nên bạn bè gọi anh ta với biệt danh Trường Lắc. Sau khi được ra khỏi trại tù, anh ta theo xe đò của gia đình, chạy đường Sàigòn – Phương Lâm, cái thời xe chạy than ấy, bạn hàng buôn chuyến, chở hàng hóa nào là than, đậu, bắp, cà phê, tuy có cực thân, nhưng Trường Lắc đà hốt bạc và kiếm chác, lợi dụng đôi khi cũng giúp đỡ những bạn hàng buôn chuyến.

Đến Bảo Lộc, Thịnh và tôi tìm không thấy cái quán kia, hỏi thăm người lân cận đó, họ cho biết quán đã dẹp rồi, chúng tôi đành phải đi ăn sáng ở quán khác, rồi mới tiếp tục lái xe lên đường tới Đà Lạt.

Chúng tôi trọ ở khách sạn gần khu chợ Hòa Bình. Buổi chiều Thịnh đi thăm người quen, tôi thả bộ ra chợ, tìm quán uống cà-phê rồi đi quanh bờ hồ để nhớ lại những năm tháng xa xưa, có một lần khi còn trẻ, thời sinh viên tôi đã lên thành phố nầy tham quan vài ngày, trong đó có ngày cuối tuần, nam thanh nữ tú của xứ sở nầy đã đi dạo chơi, nhiều chàng trai trong quân phục thẳng nếp màu vàng, từ những quân trường thanh lịch dạo phố, không hẹn mà tôi được gặp Duyên, nàng từ Sàigòn lên thăm người anh đang thụ huấn ở quân trường.

Tránh nơi đông người, rời cà-phê Tùng, chúng tôi đi dạo quanh hồ. Chia tay lần đó, chúng tôi không còn gặp lại, hỏi thăm bạn bè, có người cho biết gia đình đã cho nàng đi du học, chưa được bao lâu, chẳng may nàng bị tai nạn, mất tại xứ người. Cho nên lần nầy tôi muốn đi lại con đường xưa để tìm về kỷ niệm đẹp một thời.

Tôi đi được một đoạn đường, Thịnh gọi điện thoại muốn đưa tôi đi thăm một vườn ươm cây, nhân dịp Thịnh đi mua một số cây trồng.

Thịnh đón tôi ở dọc đường, rồi chúng tôi chạy qua phía bên kia hồ, để theo con đường Mimosa quanh co hướng về chân đèo Prenn.

Đường Mimosa là con đường xưa kia bác sĩ Alexandre Yersin đã theo đó để lên thành phố Đà Lạt, từ thác Prenn con đường nầy chạy dưới thung lũng dẫn lên thành phố, cảnh trí không đẹp bằng con đường qua đèo Prenn, nên trước đây người ta ít đi con đường nầy, gần đây nhà cầm quyền sửa sang lại, nên cũng có xe cô qua lại. Những năm gần đây nhà cầm quyền khuyến khích, người dân trồng những cây hoa Mimosa dọc theo con đường nầy, vào khoảng tháng 11 hoa Mimosa nở rộ vàng cả một đoạn đường dài, nên con đường nầy được gọi tên là đường Mimosa, tuy nhiên vì ít nhà dân cư, nên đường cũng vắng vẻ. 


Thịnh lái một đoạn xa thành phố non 10 cây số, rồi quẹo tay phải để vào một vườn ươm cây, là chỗ hai bên quen biết nên Thịnh được chủ nhân đón tiếp niềm nở, tôi cùng được ân cần đón chào.

Chủ nhân mời chúng tôi dùng trà, rồi gia chủ và Thịnh trao đổi nhau về mùa màng, thời tiết, về một số cây giống mới, những giò lan rừng, cả hai say sưa trao đổi nhau quanh câu chuyện nghề nghiệp.

Chuyện cũng khá lâu, thấy trời sắp tối nên Thịnh và gia chủ gom những chậu, những cây giống chất lên xe để chúng tôi trở vào thành phố dùng cơm chiều và nghỉ ngơi.

Sau khi từ giả gia chủ, chúng tôi lên xe từ từ lăn bánh ra đường Mimosa, đoạn ấy chỉ vài trăm thước, xe chưa ra tới đường thì trời đỗ cơn mưa, buổi tối ập đến nhanh chóng, Thịnh phải mở đèn, mở gạt nước để thấy đường chạy, xe vừa lấy trớn để lên dốc thì chết máy, Thịnh tắt đèn, tắt gạt nước, cố khởi động máy mấy lần, nhưng máy vẫn chẳng nổ, Thịnh không dằn được cơn bực tức:


- Sao mà trở chứng thế nầy!! Nhè lúc trời lại mưa !!

866428012015
Làm khách không mời

Ngẫm nghĩ một lúc Thịnh nói với tôi:

- Ngồi trên xe chẳng có ích lợi gì, cũng không hy vọng đón được xe về thành phố, hay là chúng ta lội bộ vào nhà ông Quang, xem ông có quen ai, gọi dùm người đến sửa xe.

- Ý kiến anh hay đó ! Nếu mưa dai dẳng, chúng ta không thể rời đây được thì kiếm bữa cơm cho đỡ dạ.

Thịnh vói tay ra phía sau lấy cái áo đi mưa đưa cho tôi và nói:

- Khoa mặc tạm cái áo mưa nầy! Nếu không thì ướt hết quần áo lạnh lắm.

- Còn Thịnh ?

- Tôi có chiếc jacket giả da nầy, vừa ấm vừa chống nước. Thôi ta đi !

Nói xong, Thịnh bước xuống xe, đóng cửa lại rồi lầm lủi đi vì trời mưa nên không chờ đợi tôi. Tôi đóng cửa xe, khoát chiếc áo mưa rồi đi theo, thấy bóng Thịnh lờ mờ qua màn mưa cách tôi chừng 20 thước.

Đi một chốc trời mưa nặng hột hơn, tôi không nhìn thấy bóng Thịnh trong màn mưa khi có tia chớp, tôi cũng cứ đi. Đi thêm một đọan nữa, tôi thấy có ánh đèn từ trong nhà dọi ra, tôi nghĩ đã đến nhà ông Quang vì lúc ra về, cũng từ hướng đó xe chúng tôi chạy ra.
Đến chiếc cổng gỗ, tôi thấy cổng khép hờ, nghĩ là Thịnh đã vào, chừa lối cho tôi đi, bước qua cánh cổng, tôi khép lại rồi mới đi vào nhà ông Quang.

Bước lên thềm trước cảnh tranh tối tranh sáng, tôi mới nhận rõ đây không phải là nhà ông Quang, đây cũng là ngôi nhà ba căn gọn nhỏ, gian giữa để một bộ salon gỗ thông, gian bên phải có bộ ván, gian bên trái có treo chiếc võng bằng vải dù, qua khỏi đó, có tấm vách ngăn từ dưới nên lên chừng non ba thước, có một cửa thông nơi gian có mắc võng, cửa thông ấy có treo tấm màn vải màu xanh da trời nhạt, ngọn đèn chừng 60 watts treo quá đầu, bên trên bộ salon, ánh sáng soi đủ phần phía trước trong nhà, phía sau vì màn và vách ngăn, nên tôi không trông thấy được.

Chủ nhân nằm trên võng, đầu ở phía vách có cửa sổ đã đóng kín, mặt quay ra cửa chính, nên đã trông thấy tôi đi vào, nên vói tay nắm chiếc vòng để lấy đà đứng lên. Tôi thoáng thấy đó là người đàn ông, tuổi ngoài sáu mươi, tóc bạc nhiều, người cao ráo và mảnh khảnh, ông ta nhanh nhẩu chào hỏi tôi:

- Chào chú em! Bên ngoài trời đang mưa, chú em vào đây chắc lỡ đường phải không?

Tôi chào đáp lại và giải thích nhanh:

- Chào chú, cháu và người bạn từ nhà ông Quang ra, chẳng may xe bị chết máy, nên quay trở lại, vì trời mưa và tối nên vào nhầm nhà.

- Quý hóa! Nhờ chú em nhầm nhà, nên tôi hân hạnh có khách. Chẳng khách sáo chi, mấy khi mới có khách tới nhà. Tôi tên Thiện, hàng xóm với ông Quang ấy mà.

Ông Thiện đi đến ghế salon phía bộ ván, gần chỗ tôi đứng ở ngạch cửa, kéo chiếc ghế ra ân cần vừa nói vừa chỉ cho tôi thấy:

- Chú cỡi áo mưa ra máng tạm cây đinh nơi cột, ngồi đây uống chén trà cho ấm.

Tôi vừa giới thiệu mình vừa cỡi áo mưa ra máng vào cây đinh ở cây cột nhà dựa cửa:

- Cháu là Khoa, đi cùng với anh Thịnh là khách hàng của ông Quang.

Vừa nói, ông Thiện vừa rót nước từ trong bình trà. có vỏ giữ ấm ra hai cái tách sứ tráng men trắng điểm hoa màu tím.

- Tưởng là ai, anh Thịnh tôi biết, vui tánh dễ thương.

Ông Thiện nhắc lại:

- Ngồi xuống đi, đừng khách sáo, uống miếng nước cho ấm, rồi chúng ta nói chuyện trước lạ sau quen mà.
866429012016

Uống rượu đêm mưa

Tôi vừa cầm tách nước lên vừa nói:

- Xin mời chú!

Ông Thiện đi lại chiếc ghế phía có cửa buồng, vừa ngồi xuống ghế vừa nói:

- Cứ tự nhiên. Xin cho hỏi đã dùng cơm chiều chưa ?

Tôi vừa uống ngụm chè tươi, nước chè vừa nóng lại có hương vị của gừng, giống như chè tươi tôi đã được dùng ở Bảo Lộc dạo nào, tôi chậm rải đáp:

- Dạ ! Thịnh và cháu định ra chợ dùng cơm, xe hư lại mưa như thế nầy, chắc tối nay phải ăn trễ rồi !

Ông Thiện nhìn ra cửa, suy nghĩ gật đầu vài cái rồi nói:

- Xin lỗi tôi dùng cơm chiều từ sớm, nhà không có thức ăn. Cháu đến võng nằm nghỉ, trong khi chờ đợi, tôi vào trong nhóm lửa, nướng miếng khô Nai, nhà còn chai rượu, có mồi chúng ta uống lai rai vài chung cho ấm bụng.

- Phiền chú quá

- Có chi mà phiền! Vậy đi nghe. Bước lại võng nằm đi !

Ông Thiện vừa đi vừa ngâm thơ cổ:

Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách,
Sắc bất ba đào dị nịch nhân.

Tôi bước lại võng nằm, nghe tiếng mưa rơi từng cơn lòng cảm thấy buồn. Tôi nghĩ, giờ nầy không biết Thịnh đang làm chi, có thể Thịnh nghĩ tôi sợ đi mưa ướt nên ngồi lại xe.

Chừng 10 phút sau, ông Thiện bưng ra cái dĩa với hai đôi đủa, mùi khô Nai thơm lừng, gợi cảm cho bao tử tôi thấy đói và thèm ăn. Ông Thiện để dĩa khô trên bàn rồi vào trong đem ra, một tay cầm hai cái ly thủy tinh “xây chừng”, tay kia cầm chai rượu, đặt hết xuống bàn xong, ông nói:

- Xin mời !

Ông vừa ngồi xuống ghế, tôi cũng rời khỏi võng, bước đến ngồi vào chiếc salon khi nảy, ông Thiện rót ra ly trước mặt tôi trước. Tôi có dịp quan sát, rượu rót ra màu trắng, tôi đoán chắc là rượu đế, tửu lượng tôi không cao, nhưng có thể uống chừng 3, 4 cái xây chừng, đủ để cả hai uống hết chai rượu đã lưng còn chừng nửa chai.

Khô Nai màu đỏ, do người ta ướp gia vị và phẩm màu với những hạt mè vàng, Khoa gắp từng miếng nhai để thưởng thức hương vị khô Nai, tựa lưng vào ghế cho thoải mái, thỉnh thoảng lại cùng ông Thiện nâng ly.

Khoa chập chờn nghe như có tiếng ông Thiện mời gọi nâng ly, lại nghe như có tiếng Thịnh từ đâu đó vọng lại.
866430012016

Trở về

Tôi giật mình chợt tỉnh vì bị ánh dèn pin rọi vào mặt, lại bị lắc vai. Khi tỉnh táo lại tôi mới biết mình ngồi tựa vào gốc cây, gần bên trái là đống tro tàn, bên tay phải có cái chai không nằm trong tay tôi. Tôi buông tay ra, cái chai ngã ra nền đất, nhìn lên thấy ông Quang và Thịnh đứng cạnh đó, bên trên đầu họ là mái che với vài tấm tôn, xung quang trống trải. Thịnh hỏi:

- Sao không vào nhà ông Quang, mà lại ngồi đây ngủ ? Không lạnh sao Khoa ?

Tôi không biết phải giải thích sao cho hai người tin, ậm ừ đáp:

- Cũng không lạnh lắm, nhờ có đống tro tàn, tôi muốn ngồi để nghe tiếng của rừng thông, rồi ngủ quên đi.

- Có thấy cô thôn nữ nào không ở cái mái che nầy?

Tôi chưa kịp trả lời thì ông Quang hối:

- Thôi chúng ta về nhà, còn ăn cơm kẻo nguội.

Tôi đứng lên đi theo ông Quang, Thịnh cầm đèn pin đi sau, theo con đường mòn đi về nhà ông Quang.

Vừa vào nhà thì có người trùm áo mưa, cũng đi theo vào nhà. Tại cửa có ánh sáng, anh ta đưa xâu chìa khóa cho Thịnh và nói:

- Xe anh không có hư chi hết, tại cọc bình long ra, không tiếp điện tốt, tôi đã siết chặt rồi, giờ thì bảo đảm.

Thịnh hỏi ngay:

- Anh tính bao nhiêu ?

- Dạ không có bao nhiêu ! Bác Quang đã cho trước rồi.

Thịnh móc túi đưa cho anh chàng một ít tiền lẻ nói:

- Trời mưa lạnh, anh cầm cái nầy uống cà-phê cho ấm. Cám ơn anh nhiều lắm nghe!

- Cám ơn anh.

Khi Thịnh và anh thợ sửa xe trao đổi với nhau, ông Quang vừa cởi chiếc áo khoác vừa nói với tôi:

- Anh lạnh lắm không ? Nếu không thì cởi áo ra cho thoải mái, chúng ta dùng cơm.

Nói xong ông kéo ghế ra ngồi, tôi cởi áo móc vào cái giá móc áo treo ở cây cột gần đó. Người thợ sửa xe chào mọi người đi ra, Thịnh quay vào, cởi áo khoác, móc lên cái móc áo, rồi đến bàn ngồi cạnh tôi, đối diện với ông Quang, Thịnh hỏi ngay:

- Sao lại có cái chòi chỗ đó chú Quang !?

Ông Quang cầm đủa lên, hối thúc:

- Cầm đủa đi anh Khoa, chúng ta vừa ăn vừa nói chuyện, bên ngoài trời sắp dứt cơn mưa, hai anh không ăn thì tôi làm sao ăn hết, nhà tôi phiền lắm đó nghe!

- Chú đừng lo, chúng tôi sẽ ăn hết thức ăn trên mâm nầy, ăn khỏi trả tiền mà, chỉ sợ thím phải nhịn miệng đài khách.

- Đừng lo! Đừng lo! Nhà tôi sẵn sàng và vui lòng, nhưng không bị đói đâu mà sợ, vì đã có nấu thêm cơm rồi.

Thịnh nhắc ông Quang:

- Còn chuyện cái chòi ?

Ông Quang như vả lả hay để gây cho chúng tôi thêm mong đợi:

- Chờ chút ! Tôi thấy thiếu chất ấm, cây nhà lá vườn đặc sản Đà Lạt, thiếu cái nầy là thiếu tất cả đó nghe.

Thấy ông Quang lấy từ trong tủ thờ ra chai rượu vang đỏ, Thịnh nói ngay:

- Đúng là đặc sản Đà Lạt.

Chúng tôi vừa ăn, ông Quang vừa kể chuyện:

- Còn chuyện cái chòi có chi đáng nói, như Thịnh vào đây chắc thỉnh thoảng có thấy một ông già người dân tộc tên là Y Niêng, ông ta ở Buônmêthuột lang bạt giang hồ, rồi trụ lại đây, giúp tôi làm vườn đã mấy năm, ông ta thích ở ngoài hơn là ở trong nhà, nên tôi che cái chòi cho ông ta ở tạm, cách nay bốn năm tháng, ông ta cho tôi biết, ông ta nhớ núi rừng muốn trở về bản làng. Rồi ông ta từ giả chúng tôi, từ đó không thấy trở lại, cái chòi tôi vẫn để đó chưa dẹp bỏ, để có khi buổi trưa ngồi nghỉ hút điếu thuốc, hoặc trời mưa vào đó ngồi trú mưa.

Tôi vội hỏi ngay thắc mắc của mình:

- Vậy trước và sau Y-Niêng không có ai ở đó ?

Ông Quang cầm ly rượu lên, mời mọi người uống:

- Nào chúng ta nâng ly !

Ông uống một hớp, Thịnh và tôi cũng cầm ly lên uống theo, với tôi rượu chát nầy không đến nổi tệ, cũng có vị ngọt, không nồng lắm. Ông Quang tiếp:

- Trước Y-Niêng chưa có cái chòi, sau Y-Niêng như đã nói, chỉ thỉnh thoảng có tôi mà thôi.

Ông Quang nhìn tôi đầy thắc mắc, tiếp:

- Chú Khoa đừng nói với tôi là có cô thôn nữ nào ở đó nghe! Chòi rỗng toát mà, có âm u gì đâu !

- Sao Khoa lại hỏi vậy ?

- Thịnh không thấy lúc tôi chợt tỉnh, tay còn cầm chai rượu sao ?

Thịnh trả lời ngay:

- Tôi lo nhìn mặt Khoa đang ngủ, mà không để ý tay chân.

Ông Quang nói:

- Tôi có thấy cái chai nằm cạnh chú Khoa mà không để ý, vì khi Y-Niêng ở đó, ông ta chắc thèm rượu cần, nên mua rượu đế đựng trong chai, thỉnh thoảng uống một tí trước mặt tôi và cũng có mời tôi, nhưng tôi chưa bao giờ uống, chẳng biết ngon hay dở, nhưng chắc là không ngon.

Tôi buột miệng nói, không suy nghĩ:

- Rượu đế ! Còn ông Thiện và khô Nai.

Thịnh như nghe không rõ, hỏi lại tôi:

- Khoa muốn ngự thiện khô Nai uống rượu chát phải không ?

Tôi không muốn cải chính, nghĩ là nên im lặng cho qua chuyện. Qua một đêm uống hai lần rượu. Người thì không, nhưng rượu chắc là thật.
866431012016

Thứ Hai, 14 tháng 7, 2014

Tôi theo học Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật

Tôi thi rớt vào Trường Kỷ sư Công Nghệ, thật ra thì tôi bỏ thi đúng hơn. Lý do: Sau một ngày thi viết đã qua, ngày thứ hai thi thực hành vẽ kỹ nghệ họa vào buổi chiều và ngày hôm sau nữa thi Công tác xưởng. Vì buổi sáng không thi nên tôi đi chơi, về nhà ăn cơm, ngủ một giấc, sau khi thức dậy đẩy xe Vélo Solex ra đi thi, xe bổng chướng không nổ máy, chạy đi tìm chỗ sửa, người thợ hì hục sửa bộ phận điện, bơm xăng … cuối cùng xe vẫn không chịu nổ máy, nhìn lại đồng hồ đeo tay, còn 15 phút phải đạp từ chợ Hòa Hưng lên Ngã tư Bảy Hiền, rồi chạy đến Trung tâm Quốc Gia Kỹ thuật Phú Thọ ít ra cũng mất đến nửa giờ, thế là quá trễ giờ thi, cho nên tôi bỏ thi.
 
Tuần sau thi vào Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, Trường lấy vào 10 người, tôi đứng hạng thứ 12, tôi sinh học dự thính, Trường chấp thuận, cuối cùng chỉ có 6 người theo học, tôi được lấy vào chánh thức. Học Sư Phạm cầm bằng mình sẽ ra Trường, nên tôi vừa học vừa chơi, có lần tôi bỏ học cả tuần để đi Huế, đi Quảng Trị chơi năm 1965. Nên khi ra Trường tôi đứng hạng thứ ba, hai anh ưu tiên hơn tôi một anh chọn về Trường Kỹ Thuật Long Xuyên vì bạn gái của anh đang làm y tá ở Bệnh viện Long Xuyên, anh thứ hai chọn Trường Kỹ Thuật Vĩnh Long, tôi chọn Trường Kỹ Thuật Ban Mê Thuột, anh kế tôi phải chọn xa hơn nữa là Trường Kỹ Thuật Đà Nẳng. Còn lại 2 người không có nhu cầu nên Trường giữ lại, học thêm 2 năm nữa ra Giáo sư Chuyên nghiệp Đệ nhị cấp.
 
Vào năm 1957 hay 58, thời ông kỷ sư cầu cống Trần Văn Bạch làm Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Và Mỹ Thuật Học Vụ, tôi học lớp Đệ lục hay Đệ ngũ trường Kỹ Thuật Cao Thắng, được nhà trường điều động lên Trung Tâm Quốc Gia Kỹ Thuật Phú Thọ để làm hàng rào danh dự, chào đón ông Bộ Trưởng Bộ Giáo Dục đến chủ tọa lễ đặt viên đá đầu tiên, xây cất Trường Bách Khoa Trung Cấp Phú Thọ.
 
Hình như cũng trong thời gian đó, trường Quốc Gia Thương Mại được thành lập do ông Phan Hữu Tạt làm Hiệu Trưởng và Trường Nữ Công Gia Chánh do bà Nữ phu nhân của Giám Thị Cao Thắng Nguyễn Văn Tập làm Hiệu Trưởng, cả hai trường dùng các lớp học trong khuôn viên Nha Kỹ Thuật và Mỹ Thuật Học Vụ để giảng dạy. Nơi khuôn viên này tuy nhỏ, nhưng nhiều Trường đã được thành lập tại đây như Trường Quốc Gia Âm Nhạc do nhạc sĩ Nguyễn Phụng làm Giám Đốc, Trường Kỷ sư Công nghệ, Trường Kỹ Thuật Phan Đình Phùng (Chi nhánh Trung học Cao Thắng), Trung Tâm chuyên nghiệp Phan Đình Phùng (1975, sáp nhập vào Nguyễn Trường Tộ), và Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ tạm trú rồi vĩnh viễn sau năm 1972 cho đến nay. Tuy chỉ có 6 lớp học, có lúc cả 3 Trường cùng hoạt động: ban ngày Trường Kỷ sư Công nghệ và Trường KT Phan Đình Phùng, ban đêm Trường Quốc Gia Âm Nhạc. 
 
Đến năm 1960, Trường Bách Khoa Trung Cấp xây cất xong, thu nhận khóa đầu tiên theo học, gồm học sinh các Trường Cao Thắng và Thực Nghiệp thi tuyển vào, các trường Thương Mại và Nữ Công Gia Chánh cũng được dời về Trường Bách Khoa Trung Cấp, mỗi Trường này chiếm một dãi lớp gồm hai tầng lầu.
 
Năm 1962, dưới thời Kỷ sư Nguyễn Được làm Giám Đốc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, Ban Cao Đẳng Sư Phạm được thành lập, Ban này do ông Trần Lưu Cung kỷ sư viễn thông, Phụ tá Giám Đốc Nha làm Giám Đốc Ban này, kiêm Giám Đốc Trường Bách Khoa Trung Cấp, Ban Cao Đẳng dùng chung cơ sở của Trường Bách Khoa Trung Cấp để đào tạo Giáo sư Chuyên Nghiệp Đệ Nhất và Đệ Nhị Cấp, gồm các Ban: Khoa Học Áp Dụng, Kỹ Nghệ Họa, Máy Dụng Cụ, Điện Lạnh, Điện tử, Kỹ Nghệ Sắt, Kỹ Nghệ Gỗ, đến năm 1964 mới mở thêm Ban Nữ Công Gia Chánh và Thương Mại.

Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật là hệ Cao Đẳng như Cao Đẳng Công Chánh, Cao Đẳng Điện, Cao Đẳng Hóa Học, chuyên đào tạo Trung cấp và Đại Học, nhưng Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật không chính thức là một Trường Cao Đẳng, nó chỉ là Ban Cao Đẳng, trực thuộc Nha Kỹ Thuật Học Vụ, sinh viên tốt nghiệp 2 năm, chỉ số 320 và tốt nghiệp 4 năm, chỉ số 480. Mãi đến năm 1972, Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật mới có cơ sở riêng ở Thủ Đức với tên Trung Tâm Giáo Dục Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ. Năm 1974, được cải danh Trường Đại Học Giáo Dục Thủ Đức.
 
Năm đầu tiên, tôi học Toán với giáo sư Vũ Mộng Hà, Anh Văn giáo sư Phạm Văn Rao, vốn là giáo sư Cao Thắng, Công tác Xưởng học Kỹ Nghệ Gỗ với giáo sư Trần Minh Hoàng, Cơ Học kỷ sư Tôn Thất Tiêu, Kỹ Nghệ Họa 20 giờ/tuần học với kỷ sư Trần Thế Can, hồi ở Cao Thắng, tôi đã học với ông về Kỹ Nghệ Họa 5 giờ/tuần và Đại số.
 
Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng mỗi tuần chúng tôi học chừng 40 giờ và mỗi sinh viên đường nhiên có học bổng hàng tháng một ngàn đồng.
 
Những ngày đầu, kể cả tôi, gồm có 9, 10 người theo học, trong đó có một số lại đỗ vào Kỹ sư Công nghệ, ai cũng muốn học kỷ sư, nhưng theo học kỷ sư mất 4 năm, còn Ban Kỹ Nghệ Họa chúng tôi năm đó chỉ lấy 10 người, học 2 năm, mỗi tháng đều có học bổng, cho nên có người học vài ngày rồi bỏ để theo học Kỷ sư Công nghệ, riêng chỉ có anh Nguyễn Văn Bài bỏ kỷ sư, theo học sư phạm; theo tôi, anh vì hoàn cảnh gia đình.
 
Lớp chúng tôi gồm có: Nguyễn Văn Bài, Phạm Văn Đước, Nguyễn Hữu Lộc, Lương Văn Nhơn, Trịnh Như Tích và tôi. Riêng Trịnh Như Tích là học sinh tốt nghiệp Tú Tài 2 phổ thông thi vào, phải nói là chúng tôi thật sự không hiểu vì sao anh đã đậu, tính ra chúng tôi đã học 7 năm Kỹ nghệ họa, mỗi tuần từ 4 giờ ở Đệ Nhất Cấp và 5 giờ ở Đệ Nhị Cấp, vị chi ít nhất phải học từ A đến Z chừng 800 giờ. Vậy mà anh Trịnh Như Tích lại trúng tuyển môn thi anh không học có hệ số 4 !
 
Trước khi chúng tôi vào học, Ban Kỹ Nghệ Họa có đến 2 giáo sư của Trường Đại Học Southern Illinois University, gọi tắc là phái đoàn SIU, sang dạy, lúc chúng tôi mới vào học, 2 giáo sư này hết hạn, đang chuẩn bị về nước, riêng Xưởng Kỹ Nghệ Gỗ vẫn còn một giáo sư cố vấn Mỹ.
 
Trong môn chính học Kỹ Nghệ Họa, ngoài việc học vẽ, kỹ thuật học, chúng tôi còn phải dịch các tài liệu kỹ thuật từ sách báo Mỹ ra Việt Văn, sau khi dịch xong, in Ditto ra phát cho mỗi người một bản để người dịch trình bày và cả lớp cùng thảo luận, một là nhằm mục đích tập cho sinh viên dịch tài liệu, hai là tập thuyết trình cũng là hai thứ chánh yếu cần thiết để giảng dạy sau này.
 
Ngày đó đã có Ronéo, Photocopy rất giới hạn, in Ditto cũng gần giống như in thạch hay in bột. Trên một tờ giấy để in Ditto, người ta tráng lên một lớp hóa chất chứa phẩm màu tím, rồi dùng tờ giấy khác che lại, không cho tiếp xúc với giấy hay vật khác. Muốn in người ta dùng cây bút đặt biệt đầu nhọn, tròn như hòn bi, viết lên mặt trước của tờ giấy tráng phẩm tím, nó sẽ kẻ lên tờ giấy bên kia màu tím những gì ta viết, vẽ hay đánh máy, sau đó đem tờ giấy có in những gì ta viết vẽ hay đánh máy, dán lên ống trụ của máy Ditto, khi máy chạy alcohol sẽ thấm vào tờ giấy này, nó sẽ in qua ống trụ khác, các chữ số sẽ ngược đi, ống trụ này sẽ lăn qua tờ giấy trắng, in lại những hình, chữ số sẽ thuận trở lại, giống như mấy chục năm trước, khoảng năm 1945, muốn in truyền đơn, người ta in thạch hay bột vậy.
 
Năm thứ hai, chúng tôi học Kỹ Nghệ Họa với kỷ sư Nguyễn Năng Cường, Anh Văn với giáo sư Nguyễn Hoàng Trinh, Máy Dụng Cụ với giáo sư Nguyễn Văn Giáp, Toán với kỷ sư Trần Lưu Cung, Cơ Học cũng với giáo sư Tôn Thất Tiêu, Sư Phạm với Thanh Tra Văn Văn Đây.
 
Trong một lần bầu cử Ban Đại Diện Sinh Viên Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật, có hai liên danh, tôi được anh chị em mời vào một liên danh gồm có 5 người, nay tôi đã quên gồm những ai, chỉ nhớ trong đó có chị Triệu Thị Chơi Nữ Công Gia Chánh, chị dễ nhớ vì chồng chị anh Trần Phát Lạc ra khóa đầu tiên Ban Kỹ Nghệ Họa Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật. Liên danh chúng tôi thất cử, liên danh kia đắc cử có anh Phạm Văn Tài sau làm Hiệu Trưởng Trường Kỹ Thuật Nguyễn Trường Tộ, người đã đề bạt tôi làm Hiệu Trưởng Trường này kế nhiệm anh.
 
Tôi nhớ trong thời gian này, sinh viên có những cuộc biểu tình, bày tỏ lập trường với chánh phủ và sinh viên Ban Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật đã họp Đại Hội Đồng để Bất tín nhiệm Tổng Hội Sinh Viên Sàigòn và Ban Đại Diện Sinh Viên Cao Đẳng Sư Phạm Kỹ Thuật do Nguyễn Minh Sử làm Trưởng Ban Đại Diện.
 
Tôi muốn nói thêm một chút về anh Nguyễn Minh Sử, sau khi tốt nghiệp 2 năm, anh không đi nhận nhiệm sở, ở lại tiếp tục học 4 năm để ra giáo sư đệ nhị cấp. Sau này đi làm anh là Công Cán Ủy Viên của Tổng Trưởng Giáo Dục Ngô Khắc Tỉnh, anh được đi học trường Đại Học Quốc Phòng số 2 đại lộ Thống Nhất, Trường dành cho Sĩ Quan cao cấp và Hành chánh từ Giám Đốc trở lên.
 
Có lần Bộ Giáo Dục họp, Tổng Trưởng bận công vụ không thể chủ tọa, Nguyễn Minh Sử thay thế Tổng Trưởng Giáo Dục chủ tọa, tham dự có các Thứ Trưởng, các Giám Đốc, trong đó có Thứ Trưởng Trần Lưu Cung vốn là Thầy và là Giám Đốc Trường đào tạo nghề giáo của anh vài năm trước đó.
 
Sau 1975, khoảng năm 1980, Nguyễn Minh Sử làm Trưởng phòng Giáo Vụ của Trường Lê Thị Hồng Gấm, tại Sàigòn.
 
Anh có xuất bản một quyển sách nhỏ, hướng dẫn phương pháp làm Luận án tốt nghiệp của Sinh viên. Anh quả thật có tài “Gặp thời thế, thế thời phải thế!”
 
Trong các nữ sinh viên Sư Phạm thời đó, hình như có người đẹp Hoàng Lan sau kết duyên với Trưởng Ty điện lực Tây Ninh ? Cô Huyền tên xứng danh với nước da của cô, cũng nổi tiếng vì có duyên hơn là đẹp.
 
Cầm bằng như học hết chương trình rồi sẽ ra Trường đi dạy, nên tôi học cầm chừng, có lúc tôi bỏ học cả tuần để đi Huế chơi. Còn hang ngày sau khi hết giờ học, tôi chạy tới chùa Xá Lợi để theo học tại Phân Khoa Văn Học và Khoa Học Nhân Văn của Đại Học Vạn Hạnh mới mở, nên khi ra Trường, tôi đứng hạng ba trong số bốn người tốt nghiệp năm đó gồm có: Nguyễn Văn Bài (VN), Lương Văn Nhơn (Ohio), tôi (Kentucky) và Trịnh Như Tích (California).

Mỗi sinh viên Ban Cao Đẳng Sư Phạm ra Trường đều có làm một Luận án tốt nghiệp. Luận án của tôi trình bày về Bánh xe răng khoảng 30 trang đánh máy.
 
Hai năm học Sư Phạm Kỹ Thuật, trôi qua lặng lẽ trong đời, nơi đây tôi học tập được nhiều điều hay để đem ra thực hành giảng dạy sau này, tôi cũng rút ra được những kinh nghiệm để dịch và viết sách kỹ thuật bán cho nhà sách Khai Trí. Một nhà sách đứng thứ nhất trong những nhà xuất bản danh tiếng thời bấy giờ tại Thủ đô Sàigòn.

21-2-2009

Chủ Nhật, 10 tháng 11, 2013

Tôi dự Họp mặt Truyền Thống ĐHSPKT




Mấy hôm trước, anh Hỗ Ngọc Điển thông báo cho biết sáng Chủ nhật 10-11-2012, sẽ có tổ chức họp mặt Cựu Sinh Viên Đại học Sư Phạm Kỹ Thuật, Điển rủ tôi tham dự, tôi nhờ Điển giúp cho phương tiện đi, Điển cho biết sáng sớm sẽ đến rước, đưa tôi đến nhà Nhân rồi cùng đi xe ô-tô của Nhân.

Đúng hẹn và đúng 6 giờ 30, Điển chạy xe tới đón tôi, rồi đưa tôi tới nhà Nhân ở đường Hậu Giang, lúc ấy chưa đầy 7 giờ sáng.

Tôi bấm chuông, một lúc thì chị Hoàng vợ anh Nhân ra mở cửa cho chúng tôi vào. Điển và tôi đi trong sân nhà anh Nhân, có rất nhiều cây cảnh, chủ nhân hình như lâu ngày đã không chăm sóc tới những chậu mai, lài trâu, nguyệt quới, dây trầu bà, muồng… có vài cây tôi không biết, Điển giới thiệu nhưng tôi đã quên, nói chung là những cây cảnh có giá trị.

Chừng hai mươi phút sau, Nhân mới ra cho biết anh hẹn 7 giờ 30 chớ không phải 7 giờ sớm quá, một lát sau có thêm Hiệp đến. Thế là đông đủ, anh Nhân lái xe Van Toyota 7 chỗ ngồi đưa chúng tôi đi, trong đó có vợ anh chị Hoàng, anh Điển, anh Hiệp và tôi.

Lên đến nơi, gặp Thầy Niên đang hút thuốc bên vệ đường, trước giảng đường, tôi không thể nào tưởng tượng nổi đó là Thầy Niên, thầy dạy ở Bách Khoa Trung Cấp xưa kia, chúng tôi được mời lên Giảng đường ở lầu 6. Tại đây gặp lại anh Nguyễn Văn Quyền, Phó trưởng ban liên lạc Cựu sinh viên, Quyền trách tôi năm trước về không cho Quyền biết, thật ra tôi không có số điện thoại của Quyền.


 Trước khi lễ, tôi gặp lại Hội ở ban Đúc, Hội hỏi thăm Lương Văn Nhơn và Trang, mấy năm trước họ là thông gia, nay các cháu đã ly dị, con gái Nhơn lập gia đình với người khác, nay Nhơn đã có cháu nội, cháu ngoại đầy đủ.


Rồi buổi lễ tiến hành, diễn văn của Trưởng Ban tổ chức, phát biểu của cựu Hiệu Trưởng, của Cựu sinh viên, sau đó phát các xuất học bổng, quà tặng.

Vì Bí thư trường kiệm Hiệu Trưởng bận việc phát bằng cho sinh viên tốt nghiệp, nên khi Hiệu Trưởng đến, được mời phát biểu, đã nói khái quát về đường hướng giáo dục của nhà trường sắp tới, để hội nhập cùng các nước trong Hiệp hội Đông Nam Á. Cụ thể sẽ giảng dạy bằng Anh ngữ, một số môn học sẽ cải tiến chỉ học trên vi tính, ngay cả thực tập mà một số trường tân tiến đã áp dụng.



Trong phòng họp, tôi được gặp Nguyễn Khắc Cường, anh nhắc cho tôi nhớ trước đây anh có liên lạc với tôi qua Email.

Sau đó chụp hình chung gồm giáo chức và các cựu sinh viên, sau đó Hồ Ngọc Điển chụp riêng Hiệu Trưởng với một vài cựu sinh viên kỳ cựu.

 
Rồi tất cả được mời ra ngoài liên hoan nhẹ, ăn buffet, có bia Sàigòn và nước ngọt, tráng miệng có bánh ngọt và râu câu ướp lạnh, nghe nói Ban tổ chức đặt 250 phần, mỗi phần 70,000.00 đồng

Khi liên hoan, chúng tôi gặp lại anh Phạm Văn Đáo, cựu sinh viên khóa 1, cũng là giáo viên lâu năm của Trường, nay đã về hưu, làm cố vấn cho một công ty lớn. Tôi có hỏi thăm về Râm, Râm ở Long An vẫn khỏe mạnh nhưng lâu ngày Đáo chưa gặp lại.

Hồng, Nhân, Đáo, Tông, Hiệp, Hội, Điển

Tôi không ngờ gặp lại Nguyễn Văn Năng, giáo viên Nguyễn Trường Tộ, tôi có hỏi thăm Chiến. Năng cho biết anh đã về hưu, Chiến vẫn còn dạy. Vậy mà trước kia cô Thu, thư ký văn phòng cho biết không còn ai là người cũ ở lại Trường.


Vì Nguyễn Đức Lộc bệnh đau lưng, không thể ngồi lâu, đã không dự Họp mặt, nên chúng tôi kéo nhau đi thăm Lộc ở một quán cà phê võng trong khu Chợ Nhỏ, gần Trường Bộ Binh xưa.


Chúng tôi uống nước xong, chia tay Lộc và Hội, chúng tôi lên xe về, để hai anh chàng sẽ nằm lại nghỉ ngơi một chiều chủ nhật.


Lần trước được Quyền đưa tôi thăm lại Trường xưa, ngôi Trường mà năm 1972 Hội đồng giáo sư Trung học Kỹ thuật Nguyễn Trường Tộ, từ bỏ chủ quyền do tòa Đại sứ Mỹ đền bù sau khi họ lấy cơ sở tại 25 bis Hồng Thập Tự, cạnh bót cảnh sát quận Nhất.


Tôi nhớ đến huyền thoại về một cây trong Trường, hiện nay vẫn còn, nhớ giáo sư Pháp Văn Nguyễn Tấn Lợi, những dãi lớp học, ký túc xá vắng vẻ trong những khi trực đêm, những ly cà phê đen ở quán Chiều Tím và những chai 33.

Hiệu trưởng Phan Kim Báu, Phạm Văn Tài, Trưởng phòng hành chánh Lê Bá Thanh, giáo sư Hồ Ngọc Thu, Bùi Khắc Triệu, Tạ Quang Mùi nay đã ra người thiên cổ. Còn Nguyễn Văn Phấn, Trần Hữu Phụng, Lê Trung Hoan, Hà Mộng Giao, Nguyễn Anh Dõng, Nguyễn Mai Ninh và cả tôi thành ra bầy chim viễn xứ.

Một ngày đáng nhớ về mái Trường xưa.
Sg. 10-11-2013